Thuế thu nhập cá nhân và thực trang ở Việt Nam 2013 – Phần 2

>>Thuế thu nhập cá nhân và thực trang ở Việt Nam 2013 – Phần 1

>>Thuế thu nhập cá nhân và thực trang ở Việt Nam 2013 – Phần 3

Những bất cập và vấn đề đặt ra trong quản lý thuế TNCN (tiếp)

Về công tác cấp mã số thuế cá nhân

Để triển khai Luật Thuế TNCN, bước đầu tiên là việc cấp mã số thuế cá nhân. Mã số này sẽ gắn với mỗi cá nhân suốt đời và là cơ sở để quản lý đối tượng nộp thuế TNCN. Do số lượng đối tượng nộp thuế TNCN quá lớn, nên để đảm bảo tiến độ cấp mã số thuế cá nhân phục vụ kịp thời công tác thu thuế, thời gian đầu Cục thuế chỉ yêu cầu các đơn vị chi trả thu nhập thực hiện đăng ký cấp mã số thuế cho những cá nhân có mức thu nhập đạt ngưỡng phải nộp thuế. Sau giai đoạn một, yêu cầu các đơn vị chi trả thu nhập kê khai bổ sung đối với những trường hợp chưa kê khai, đồng thời triển khai cấp mã số thuế cho các đối tượng thuộc diện chịu thuế, song chưa có mã số thuế.

Theo Cục thuế Hà Nội, tính đến 30/06/2010, số mã số thuế cá nhân cấp cho đối tượng có thu nhập từ tiền lương, tiền công tăng gấp hơn 200 lần so với năm 2008 và đạt tỷ lệ 31,64% dân số từ 15 tuổi trở lên. Đây là nỗ lực rất lớn của Cục Thuế Hà Nội và là tiền đề rất quan trọng cho công tác quản lý kê khai nộp thuế TNCN và quyết toán thuế đạt hiệu quả, đáp ứng mục tiêu của cơ chế tự khai tự nộp thuế.

Bảng 1: Tình hình cấp mã số thuế cá nhân trên địa bàn Hà Nội

Đơn vị tính: Mã số

Năm Cá nhân có TNtừ tiền lương tiền công Cá nhân có TNtừ kinh doanh
Số cấp mới Số lũy kế đến cuối năm Số cấp mới Số lũy kế đến cuối năm
2008 5.543 43.959 22.605 113.741
2009 1.087.918 1.131.877 6.602 120.343
6T/2010 295.664 1.427.541 24.102 144.445

(Nguồn: Cục thuế Hà Nội)

Tuy nhiên, để quản lý chặt chẽ người nộp thuế, yêu cầu đặt ra là phải cấp mã số thuế cá nhân cho mọi công dân. Việc người nộp thuế chưa có mã số thuế sẽ gây thiệt hại cho chính người nộp thuế vì phải nộp thuế TNCN với tỷ lệ trích cao hơn. Đặc biệt, việc các cá nhân phụ thuộc không có mã số thuế dẫn đến khe hở và khó kiểm soát chính xác vấn đề giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc, từ đó, gây thất thu thuế TNCN. Việc kê khai giảm trừ gia cảnh chủ yếu là dựa vào ý thức của đối tượng nộp thuế.

Điều này đã tạo ra khe hở trong việc kê khai số người phụ thuộc. Ví dụ, cùng 1 ông bố hay bà mẹ, nhưng sẽ được tính trùng thành 2 bởi cả 2 người con ở 2 địa phương khác nhau đều cùng kê khai và chính quyền địa phương sở tại đều xác nhận. Thực tế cho thấy, hiện nay nhiều địa phương khi nhận được một số đơn đề nghị xác nhận đối tượng cư trú có trách nhiệm nuôi dưỡng người phụ thuộc ở địa phương khác (ông, bà, cháu… ở quê), họ không thể nào xác định được mối quan hệ của người phụ thuộc đang sống ở tỉnh khác và người dân đang cư trú trên địa bàn, càng không thể nào biết được có đúng là người dân đang cư trú trên địa bàn có trách nhiệm nuôi dưỡng người đang sống ở tỉnh khác hay không, dẫn tới tình trạng nơi thì chứng nhận hết một cách quá dễ dàng, nơi thì từ chối chứng nhận gây khó khăn cho người dân. Và cũng theo phản ánh của người dân thì một trong những khó khăn mà họ gặp phải là xin hồ sơ để xác định đối tượng phụ thuộc không có thu nhập.

Về công tác kê khai nộp thuế, quyết toán thuế TNCN

Thông qua việc cấp mã số thuế cá nhân, cơ sở dữ liệu người nộp thuế được xây dựng là tiền đề quan trọng của việc quản lý kê khai nộp thuế và quyết toán thuế TNCN. Đối với thu nhập từ tiền công tiền lương, thực hiện kê khai và nộp thuế thông qua cơ quan chi trả thu nhập, theo đó, mức thuế TNCN được khấu trừ tại nguồn theo biểu thuế suất lũy tiến từng phần đối với các khoản chi trả cho cá nhân thuộc sự quản lý của cơ quan chi trả thu nhập cho những cá nhân ký hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên và khấu trừ 10% thu nhập đối với các khoản chi trả cho cá nhân không có hợp đồng lao động hoặc hợp đồng lao động dưới 03 tháng nếu số tiền mỗi lần chi trả từ 500.000 đồng trở lên. Cơ quan chi trả thu nhập có trách nhiệm thu và chuyển số thuế thu được vào Kho bạc Nhà nước. Hiện nay Cục thuế Hà Nội đã ứng dụng phần mềm hỗ trợ kê khai theo mã vạch 2 chiều, kê khai qua mạng Internet, chương trình này đã được triển khai đến tất cả các Chi cục Thuế cho phép tiết kiệm thời gian, chi phí và nhân lực cho cả người nộp thuế và cơ quan thuế.

Biểu đồ 1: Kết quả thu Thuế thu nhập cao và thuế TNCN của Cục thuế Hà Nội

Thuế thu nhập cá nhân và thực trang ở Việt Nam 2013   Phần 2

(Nguồn: Cục thuế Hà Nội – Đơn vị tính Tỷ đồng)

Năm 2009, năm đầu tiên thực hiện Luật thuế TNCN, lại rơi vào bối cảnh nền kinh tế suy thoái, thu nhập giảm sút, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn, vì thế mà trong quá trình triển khai Luật thuế TNCN, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 160/2009/TT-BTC ngày 12/8/2009 gửi các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND các tỉnh, thành… về việc miễn thuế TNCN; theo đó, tất cả mọi cá nhân đều được miễn thuế TNCN tính trên phần thu nhập của 6 tháng đầu năm 2009, không phân biệt thời điểm chi trả thu nhập. Tuy vậy, số thuế TNCN từ tiền lương tiền công thu được của 6 tháng cuối năm 2009 vẫn đạt mức 2.704 tỷ đồng, cao gấp 2,06 lần cùng kỳ năm 2008. Điều này cho thấy, việc mở rộng diện đánh thuế và thực hiện tốt công tác quản lý kê khai nộp thuế đã tác động tích cực đến số thuế TNCN thu được trong ỳ.

Để tổ chức triển khai thực hiện việc quyết toán thuế TNCN năm 2009 theo thông tư số 160/2009/TT-BTC ngày 12/8/2009, Tổng cục Thuế đã có công văn số 451/TCT-TNCN ngày 08/02/2010 hướng dẫn cụ thể. Tuy nhiên, trong qúa trình triển khai thực hiện, đã phát sinh nhiều vướng mắc, tiến độ thực hiện quyết toán thuế TNCN chậm.

Vì vậy, ngày 21/5/2010, Tổng cục Thuế đã ban hành công văn 1700 /TCT-TNCN hướng dẫn bổ sung quyết toán thuế TNCN năm 2009, đồng thời gia hạn thời gian quyết toán thuế đến 31/07/2010. Theo quy định, việc quyết toán thuế TNCN tại cơ quan chi trả thu nhập được áp dụng đối với cá nhân trong năm chỉ có thu nhập duy nhất tại một nơi. Trong trường hợp này, cá nhân phải lập giấy ủy quyền quyết toán thuế TNCN theo mẫu quy định, trên cơ sở đó, cơ quan chi trả thu nhập tổng hợp quyết toán thuế và nộp cho cơ quan thuế trực tiếp quản lý đơn vị trả thu nhập.

Đối với cá nhân trong năm có thu nhập từ 2 nơi trở lên, cá nhân đăng ký nộp thuế tại cơ quan thuế và các trường hợp khác thì phải thực hiện quyết toán thuế tại cơ quan thuế, nơi cá nhân đăng ký giảm trừ gia cảnh hoặc tại cơ quan thuế cá nhân đăng ký quản lý. Đến nay, số lượng các cơ quan chi trả thu nhập đã thực hiện quyết toán thuế TNCN năm 2009 là 222.824 đơn vị; số lượng cá nhân tự quyết toán thuế TNCN năm 2009 tại cơ quan thuế là 48.195 người.

Tuy nhiên, thực tế cho thấy số đông người nộp thuế, kể cả những người có từ 2 nguồn thu nhập trở lên, đều ngại tự mình quyết toán thuế hoặc không rõ thủ tục tiến hành, nên ủy quyền cho đơn vị chi trả thu nhập thực hiện hộ. Từ đó, có thể làm thất thu ngân sách nhà nước hoặc gây thiệt hại cho quyền lợi chính đáng của chính người nộp thuế.

Về công tác thanh tra, kiểm tra thuế

Từ sau khi Luật quản lý thuế có hiệu lực thi hành, công tác thanh tra kiểm tra thuế của Cục thuế Hà Nội có nhiều đổi mới. Thanh tra kiểm tra dựa trên cơ sở thu thập, phân tích thông tin dữ liệu liên quan đến người nộp thuế để đánh giá mức độ tuân thủ, phân loại rủi ro và lập danh sách người nộp thuế phải kiểm tra hồ sơ khai thuế. Mặc dù Cục thuế Hà Nội đã tăng cường công tác thanh tra kiểm tra chống thất thu thuế, kiểm tra hồ sơ khai thuế tại trụ sở của cơ quan thuế và nhiều trường hợp kiểm tra tại trụ sở của người nộp thuế. Tuy nhiên, do năm 2009 là năm đầu tiên thực hiện Luật thuế TNCN, có nhiều nội dung mới trong phương pháp quản lý thuế, do tính phức tạp của thuế TNCN, số lượng người nộp thuế quá lớn, nên việc tổ chức thực hiện thanh tra kiểm tra về thuế TNCN chưa được thực hiện đầy đủ, thường xuyên…

Ngoài ra, thực tế tiến hành thu thuế TNCN trên địa bàn Hà Nội và cả nước thời gian qua còn cho thấy những bất cập khác, như:

- Chưa kiểm soát được mọi nguồn thu nhập của từng cá nhân. Nguồn hình thành TNCN quá đa dạng và phức tạp. Đối với những khoản thu nhập từ tiền lương, tiền công thì cơ quan thuế có thể kiểm soát qua đơn vị trực tiếp chi trả thu nhập; nhưng đối với các khoản thu nhập của các hộ kinh doanh cá thể, các cá nhân hành nghề độc lập, đặc biệt là đối với đối tượng ca sỹ, nghệ sỹ,… thì cơ quan thuế khó có thể kiểm soát được một cách chính xác.

- Mức giảm trừ cá nhân và giảm trừ cho người phụ thuộc theo Luật hiện hành là chưa hợp lý, chưa tính đến sự mất giá của đồng tiền. Theo thời giá hiện nay, việc quy định mức giảm trừ gia cảnh là 4 triệu đồng/người/tháng đối với cá nhân người nộp thuế và 1,6 triệu đồng/người/tháng đối với người phụ thuộc là chưa đảm bảo cho đời sống tối thiểu của người lao động, nhất là ở đô thị. Một điểm chưa hợp lý nữa là mức giảm trừ gia cảnh hiện nay không tính đến khu vực, có nghĩa là ở nông thôn, thành thị, đồng bằng hay miền núi đều áp dụng như nhau, nhưng thực tế cho thấy mức chi tiêu cho sinh hoạt hàng ngày của một cá nhân ở thành thị là lớn hơn rất nhiều so với ở nông thôn và miền núi.

Tình trạng trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân, cả từ những bất cập trong quy định của luật thuế, cũng như từ những yếu tố khác, như:

- Nền kinh tế Việt Nam vẫn là một nền kinh tế ưa chuộng tiền mặt, phần lớn các khoản thu nhập cá nhân đều được chi trả bằng tiền mặt, do đó, khó có thể tạo ra cơ chế kiểm soát thu nhập cá nhân một cách chính xác và hiệu quả.

- Chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa ngành thuế với các cấp chính quyền địa phương, với các tổ chức, cơ quan liên quan trong việc hợp tác triển khai Luật thuế TNCN, dẫn đến những khó khăn trong việc xác định và quản lý gia cảnh người nộp thuế, quản lý hoạt động của các cá nhân kinh doanh tự do, hành nghề độc lập,…

- Hiện tượng tiêu cực và bất công trong việc nộp thuế TNCN vẫn chưa được xử lý triệt để, làm ảnh hưởng đến tính hiệu quả thực tế và công bằng của Luật thuế, gây một số bức xúc trong quần chúng nhân dân.

- Trình độ hiểu biết và ý thức chấp hành Luật của một bộ phận lớn dân cư còn hạn chế, tâm lý trốn thuế còn lan truyền, trong khi lực lượng cán bộ thuế còn mỏng, không thể thực hiện thanh tra kiểm tra thuế TNCN trên diện rộng để phát hiện các hành vi vi phạm và xử lý.

Thuế thu nhập cá nhân và thực trang ở Việt Nam 2013   Phần 2

Thuế thu nhập cá nhân và thực trang ở Việt Nam 2013   Phần 2 090 49 41 466

Thuế thu nhập cá nhân và thực trang ở Việt Nam 2013   Phần 2 04.666.04.881

Thuế thu nhập cá nhân và thực trang ở Việt Nam 2013   Phần 2 Email liên hệ

Trung Tâm Kế Toán Bình Minh - Dạy thực hành - Học thực tế. Với môi trường đào tạo khác biệt hoàn toàn với môi trường trong trường lớp : đội ngũ kế toán với kinh nghiệm trên 10 năm , Cơ sở vật chất hiện đại , kết thúc khóa học sẽ có được kiến thức tương ứng với 1 năm kinh nghiệm....

Các khóa học được quan tâm nhiều:
Dịch vụ kế toán VBMS
Dịch vụ kế toán thuế trọn gói cho mọi loại hình doanh nghiệp liên hệ 090 4941 466 - 090 4941 566